Mục Vụ Sinh Viên | Sinh Viên Nhịp Bước Đa Minh | Tin tức | Văn Hóa Và Hội Nhập | CÁC NHÂN TỐ VĂN HOÁ VIỆT NƠI NHÀ THỜ ĐAMINH – BA CHUÔNG -PHẦN II


Tin tức » Văn Hóa Và Hội Nhập 06-09-10 02:34
 
CÁC NHÂN TỐ VĂN HOÁ VIỆT NƠI NHÀ THỜ ĐAMINH – BA CHUÔNG -PHẦN II
(Sinh Viên Đa Minh | 194 Lượt Xem)

Xem hình
(SVĐM) Nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông được xây dựng theo phong cách Á Đông mang đậm nét văn hoá Việt. Nó mang dáng dấp của một ngôi đình Việt Nam: hình vuông, mái cong được xây theo lối kiến trúc hiện đại: bê tông cốt sắt, tường gạch ốp đá. Nhờ đó ngôi nhà thờ trở nên nguy nga, tráng lệ, nhưng lại rất thanh thoát và nhẹ nhàng.



1. Ngoại thất Nhà thờ    

 Nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông được xây dựng theo phong cách Á Đông mang đậm nét văn hoá Việt. Nó mang dáng dấp của một ngôi đình Việt Nam: hình vuông, mái cong được xây theo lối kiến trúc hiện đại: bê tông cốt sắt, tường gạch ốp đá. Nhờ đó ngôi nhà thờ trở nên nguy nga, tráng lệ, nhưng lại rất thanh thoát và nhẹ nhàng.

“Bình diện vuông, theo tư duy Việt cổ, họ quan niệm trái đất vuông, được bốn phương neo giữ”.  Chu Quang Trứ, Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam (TP. HCM: Mỹ Thuật, . . . ), tr. 66. Đặc tính này được tác giả khai thác triệt để khi thiết kế nhà thờ, do đó, nó không trơ trọi mà hoà điệu với khu biệt kính các thánh và các quãng trường . . . tạo thành một cảnh quan tổng thể có cả chiều cao lẫn bề rộng vừa thiêng liêng vừa ấm cúng.

“Thiên nhiên, ngoại cảnh là yếu tố căn bản trong kiến trúc Việt Nam. Cái triết lý “vạn vật nhất thể” bàng bạc khắp nơi. Qua thiên nhiên và nhờ thiên nhiên, con người cảm thấy gần gũi, nhẹ nhàng, một bước rất gần tới Chân, Thiện, Mỹ”. Xung quanh ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ là các quảng trường (QT) Thánh Mar-ti-nô, quảng trường Đức Mẹ Lavang, quảng trường các Thánh Tử đạo Việt Nam được trang hoàng bằng những nhân tố văn hoá rất Việt: những cây đèn đá, bờ tre, khóm trúc, cây kiểng, hòn non bộ, hồ cá . . . tạo nên không gian thờ phượng rất thiên nhiên và cũng rất gần gũi với đời sống của người dân. Những bài trí đó vừa mang nét đẹp của văn hoá Việt, vừa góp phần làm cho ngôi Nhà thờ đồ sộ hoà mình với tự nhiên hơn.

* Cổng Tam Quan 

Khi nói đến Cổng Tam Quan, chúng ta liền liên tưởng đến ngôi đình làng Việt Nam, vì đây là “một cấu trúc đặc biệt trong một quần thể kiến trúc” Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung. Cổng Tam Quan thường được xây dựng trước các đình, làng làm cổng đình, cổng làng. Nó có một ý nghĩa đặc biệt đối với người dân Việt xưa kia. Khi là cổng làng, cổng Tam Quan có chức năng ngăn cách, phân biệt, giới hạn giữa các làng với nhau. Cổng để bảo vệ dân làng sống yên ổn, thanh bình. Khi người lạ bước chân vào đến cổng làng là đã bị phát hiện, nên tránh được rất nhiều nguy cơ trộm cướp, giặc giã. Khi là cổng đình, chùa, tư gia. . . cổng Tam Quan vừa có chức năng bảo vệ, vừa để tạo mỹ quan.

Tam quan có nghĩa là cổng có ba lối đi, một cổng lớn ở chính giữa và hai cổng nhỏ ở hai bên. Thường thì người ta chỉ mở một cổng nhỏ cho người qua lại, còn cổng lớn – cổng chính chỉ được mở khi có lễ hội, họp làng, những cuộc tập hợp mang tính chất cộng đồng, hay khi có xe lớn, quan lớn về làng. Cổng Tam Quan trong bối cảnh, điều kiện, con người Việt Nam, nó đã mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, gần gủi và thân thương. Ai đi xa về chưa tới làng nhưng chỉ cần nhìn thấy cổng làng là đã như thấy được sự hiện diện của dân làng mình rồi.

Nói tới cổng là nói tới một lối dẫn vào, một lối đi. Nhưng cổng tam quan đã trở nên ý nghĩa đặc biệt cho người dân Việt, vì nó là lối dẫn về nguồn, là đường đi vào những nơi sinh hoạt tập thể, dấu chỉ của sự đoàn kết, gắn bó của người dân Việt.

Cổng Tam Quan có cấu trúc riêng tạo nên những nét văn hóa rất Việt: cổng gồm bốn cột, thường kết nối với nhau bởi lớp mái, phía dưới lớp mái cổng chính là bảng tên đình hoặc làng.

Tuỳ theo từng loại kiến trúc mà người ta đã thay đổi, cách tân nó cho phù hợp với ý nghĩa và tính chất của công trình. Mô hình Cổng Tam Quan của nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông được thiết kế nhằm tạo nên sự thân thiện, và sự gần gũi với tâm thức của người Việt, nhưng không sao chép theo một mẫu kiến trúc cổ nào. Nó cũng mang ý nghĩa “phân cách không gian, làm đẹp công trình như là một tiền đường, một khoảng lặng tạo cảm giác thong dong thư thái và an nhàn, một dấu nghỉ, một bầu khí lặng thầm trang nghiêm trước khi vào chầu lễ với cộng đoàn”. Đến với nhà thờ giáo xứ Đa Minh – Ba Chuông, tr. 13.

Đặc biệt, ngoài việc thể hiện nét văn hoá bản địa, Cổng Tam Quan trong kiến trúc nhà thờ còn mang ý nghĩa tôn giáo, tượng trưng cho ba nhân đức căn bản của đạo Công giáo: đức tin, đức cậy, đức mến, tạo nên sự thánh thiện, thanh cao của công trình nhà Chúa.

* Tháp chuông

 Tháp chuông là thành tố không thể thiếu được trong kiến trúc một ngôi nhà thờ Công giáo. Tháp chuông có thể gắn liền với nhà thờ hoặc được xây dựng tách biệt tuỳ theo ý tưởng và cách thiết kế của mỗi ngôi nhà thờ. Tháp chuông thường được xây cao để tiếng chuông có thể ngân xa nhằm kêu gọi mọi người khắp nơi trong xứ đến tham dự các lễ nghi phụng vụ. Ngoài ra, chuông và tháp chuông còn mang ý nghĩa “tượng trưng cho Núi Thánh để vang âm Lời Chúa”. Trên đỉnh tháp chuông là Thánh giá “một biểu tượng không phai mờ của ơn cứu độ”. Đặc biệt, đối với nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông có đến ba quả chuông – “một dấu ấn mang tính lịch sử và cả trong ngôn ngữ cửa miệng dân dã nhà đạo xuyên suốt nửa thế kỷ qua: nhà thờ Ba Chuông”.

Tháp chuông hình trụ vuông gồm ba tầng mái với kiểu dáng mái cong truyền thống, tuy nhiên đã được cách điệu và hiện đại hoá. Mỗi góc mái là một đầu đao hình đầu rồng hướng về Thánh giá vừa thể hiện sự hội nhập văn hóa trong kiến trúc nhà thờ, vừa chuyển tải được ý nghĩa về mặt tôn giáo – Quy Ki-tô.

* Mái cong

Do dân tộc Việt sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình có nhiều đồng bằng với hệ thống sông ngòi dày đặc nên hình ảnh sông nước và con thuyền rất gần gũi với cuộc sống của người dân và nó đã ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Tâm thức đó đã được thể hiện trong quá trình sống qua các “công trình tác phẩm” của dân tộc. Từ đó cho thấy hình ảnh ngôi nhà, mái đình chính là phản ảnh sự thích nghi của con người trước môi trường tự nhiên.

 Qua các hình ảnh nhà mái cong hình con thuyền trên các trống đồng Đông Sơn, ta nhận thấy rằng nhà mái cong đã có từ lâu đời và đã trở thành nét văn hóa truyền thống trong kiến trúc của người Việt. “Đó là những ngôi nhà sàn, không có tường, mái cong võng hình thuyền và chảy xuống sát thuyền, kiêm luôn chức năng vách che, hai đầu mái phía trên uốn cong cuộn lại và nhô ra xa, trên nóc mái có một hoặc hai con chim đậu. Cạnh nhà ở còn có nhà kho cũng ở trên sàn, mái cong vòng lên hình mui thuyền, hai sườn mái rất dày. Những mẫu hình nhà này mang dáng dấp con thuyền, tĩnh mà rất động, thon thả mà chắc chắn, thích nghi với khí hậu nắng nóng và mưa to, hợp với khung cảnh thiên nhiên còn nhiều sông, ngòi, lạch chằng chịt mà hằng năm vào mùa mưa nước dâng lên ngập trắng cả vùng”.[1]

Mặc khác, “Mái cong có từ lâu đời do ảnh hưởng lối sống trên sông nước và cũng do tính chất hài hoà của nền văn hóa lúa nước. Mái cong là sự kết hợp kỳ diệu giữa âm và dương ấy, đồng thời cũng nói lên niềm tin vào phía cuối cuộc đời, con thuyền đưa linh hồn vào viên miễn, hạnh phúc tràn đầy”.

Nét uốn cong vút tại mỗi góc tạo thành những “tàu đao” của mái nhà Việt Nam, làm cho các tầng mái kiến trúc dù thấp và nặng nề , trở nên hùng vĩ và thanh thoát, nhẹ nhàn, cân bằng và hài hòa. Ngoài tính mỹ thuật trang trí và công dụng che mưa nắng của khí hậu miền nhiệt đới, mái cong còn chuyển tải một triết lý sống uyển chuyển, linh động “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” và một tâm hồn mở rộng (tứ hải giai huynh đệ); mo^.t kht vo.ng hu+o+'ng thu+o+.ng, gia?i thốt, su+. giao hịa giu+~a Tro+`i cao v ?a^'t tha^'p, giu+~a con ngu+o+`i vo+'i tha^`n linh.

* Đầu đao – linh vật

Chúng ta nhìn thấy các tàu đao hình các linh vật ở các góc mái cong trong các công trình kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng ở Việt Nam rất phổ biến.

Tàu đao được tạo thành do “hai mái bên gặp nhau tạo thành đường bờ giải gẫy khúc, lượn cong nhè nhẹ.  Đường diềm giọt nước ở phía dưới uốn cong tinh tế từ điểm giữa rồi lượn vênh lên, từ hai mái ở hai phía kéo ra góc gặp nhau chuyển hướng hất lên đột ngột, còn cuộn lại, có khi tạo thành cái đầu rồng duyên dáng, được xem  như “đoá hoa đao đình””.[2]

Đầu đao thường là hình đầu rồng, đầu chim phụng, chim câu hoặc các hoa văn nhằm tạo tính chất linh thiêng cho các công trình kiến trúc tôn giáo, . . . . Còn đối với các công trình kiến trúc khác, đầu đao được trang trí bằng các hoa văn khác để tạo nên nét thanh thoát, uyển chuyển, nhẹ nhàng.

Tàu đao đầu rồng nơi các góc mái nhà thờ với những hoạ tiết rồng bay vừa mang ý nghĩa nhắc nhớ cội nguồn, vừa khơi gợi con đường giải thoát, lại vừa diễn tả ý muốn vươn lên cao hơn, hướng thượng và những khát khao nội tâm trong tâm thức của mỗi người tín hữu khi đến cầu kinh, dâng lễ.[3]

Đặc biệt, nơi nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông có các tàu đao đầu rồng hướng về tâm điểm là Thánh giá – chầu Thánh giá, thể hiện ý hướng tôn thờ Thánh giá – biểu tượng của ơn cứu độ. Qua đó bày tỏ lòng khao khát đạt đến ơn cứu độ.

* Con Nghê

Con nghê là một trong hai linh vật đặc thù của văn hoá Việt Nam, nhưng lại rất ít được biết đến và người ta cũng không biết rõ nó xuất hiện từ khi nào.

Từ thực tế cuộc sống cho thấy, con chó là con vật rất gần gũi, thân thiết và quan trọng đối với con người. Chó bảo vệ con người, trông coi nhà cửa, canh phòng trộm cắp, thú dữ. Do đó, cha ông ta đã làm ra những con chó đá và đặt trước cổng làng, đình, nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà để canh giữ, bảo vệ làng xóm, đình đền, nhà cửa.

Dần dần chó đá được thần thánh hoá thành những linh vật để chống lại các tà ma, ác quỷ. Ở các đình chùa, đền miếu hay trước điện thờ, bàn thờ của những nhà giàu có, chó đá được đẽo khắc với những chi tiết oai vệ, đầu và mặt chó đầy những nét oai nghiêm, linh thiêng. Từ đó, chó đá trở thành linh vật trong đời sống tinh thần của người Việt và được gọi là con Nghê.

Trong ý nghĩa trên, tượng nghê được đặt trước tiền đường nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông ngang hàng với rồng chầu vừa gợi lên niềm tự hào về bản sắc văn hoá của dân tộc, vừa làm cho ngôi Nhà thờ tăng thêm vẻ uy nghiêm, thánh thiêng. Ngoài ra, hình tượng đó còn ngụ ý rằng nhà thờ là nơi thánh, không có sự hiện diện của tà ma, ác thần.

2. Nội Thất Nhà thờ

 Bước vào trong nhà thờ, ta sẽ thấy rõ chủ ý của tác giả khi thiết kế ngôi nhà thờ này: đưa bản sắc văn hoá dân tộc vào trong kiến trúc, nghệ thuật thánh. Điều này thể hiện qua việc thiết kế gian cung thánh và các bài trí bên trong lòng của nhà thờ. Một trong những nét văn hóa tiêu biểu đậm nét trong nội thất ngôi nhà thờ phải kể đến đó biểu tượng: Vuông -  Tròn (lòng nhà thờ Vuông, chóp đỉnh vuông - tròn, gian cung thánh tròn trên nền vuông, bàn thờ mặt tròn – chân vuông, Nhà tạm vuông – tròn, v,v…).

Ý nghĩa của biểu tượng “Vuông - Tròn” trong văn hóa Việt[4]

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng một lần nghe câu thành ngữ “Mẹ tròn con vuông”. Mới nghe qua chúng ta thấy câu nói đó có vẻ khá vô lý và đối nghịch nhau, nhưng hàm chứa một ý nghĩa hết sức tốt đẹp: cầu mong sao cho việc sinh nở được an lành và bình an, cả hai mẹ con đều khỏe mạnh; tức là nói đến một kết quả tốt đẹp đúng như người ta trông đợi. Trong văn hóa Việt Nam, hai hình thể “vuông – tròn” trong nhiều trường hợp đi đôi, gắn liền với nhau biểu thị cho một sự kết hợp thuận lẽ trời, và đem đến một kết quả tốt lành – thiện.

Sự tích mang tính lịch sử mà rất nhiều người trong chúng ta đã biết, đó là “bánh dày, bánh trưng”. Nó xuất phát từ câu chuyện một vị Vua Hùng, dòng vua đầu tiên của giống Việt. Câu chuyện kể lại việc nhà vua “ra đề thi” cho các con để chọn người kế vị. Một trong những người con, vốn cảnh nhà đạm bạc, không có cao lương mỹ vị để dâng vua cha, nên mới sáng chế ra hai thứ bánh chưng bánh dày để làm quà dâng cha mẹ. Hai thứ bánh đơn sơ và đầy tính dân dã ấy đã được nhà vua nhiệt liệt khen ngợi tán thưởng. Và người con này đã được vua cha truyền ngôi. Dĩ nhiên để được vua cha chấp nhận, ông hoàng con này phải mặc cho hai món bánh đơn sơ ấy một ý nghĩa nào đó mà vua cha nghe chẳng những “lọt tai” mà còn đồng ý là nó mang một ý nghĩa cao đẹp tuyệt vời mới mong được thừa nhận và truyền ngôi cho.

Ai cũng biết, bánh chưng có hình vuông, bánh dày hình tròn. Bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh dày tượng trưng cho trời. Theo quan niệm cổ, từ Đông sang Tây, người ta vẫn tin rằng trái đất là một mặt đất phẳng hình vuông. Còn trời là một cái quả tròn rỗng như cái “bát úp” chụp lên cái mặt đất hình vuông, trong đó vạn vật gồm cả con người sinh sống. Đó là hai khái niệm đầu tiên về thế giới quan - vũ trụ quan.

Quả vậy, khái niệm vuông tròn chính là khái niệm về Trời Đất, về Càn Khôn, về Âm Dương. Trong kiến trúc Đông phương, chúng ta thấy, hầu hết các dường nét bao giờ cũng là những đường nét pha trộn giữa Âm và Dương. Bên cạnh những đường thẳng cần thiết phải có, người ta không quên đưa những đường cong, những vòng tròn vào, để tạo nên một tổng thể hài hòa giữa Âm và Dương. Cái mái ngói cong cong, cái cửa sổ tròn. Trong kiến trúc Tây phương ít khi ta gặp những đường nét tròn như thế. Nhà cửa theo kiến trúc Tây phương phần lớn có dạng hình hộp.

Cũng vậy, dưới thời phong kiến, chúng ta còn thấy, những đồng tiền kẽm lưu hành trong triều Nguyễn có hình dáng mang ý nghĩa của càn khôn. Đồng tiền kẽm hình tròn, chính giữa có cái lỗ hình vuông, bốn góc có bốn chữ nho nằm bên mỗi cạnh hình vuông. Chắc hẳn, khi thiết kế mẫu tiền như thế, người ta đã gửi gấm vào hình thể ấy cái ngụ ý về một ý nghĩa cao cả: công ơn của triều đình, tức như cha mẹ đối với thần dân. Ngoài ra, cái hình thể vuông tròn còn chứa đựng sự mong muốn chúc tụng vương triều sẽ trường cửu như trời đất.

Từ khái niệm vuông tròn biểu trưng của Trời Đất, đến khái niệm vuông tròn của Âm Dương: tròn tượng trưng cho Âm tính, vuông tiêu biểu cho Dương tính. Sự kết hợp hài hòa giữa Âm Dương bao giờ cũng được xem là một kết hợp thuận tự nhiên. Một kết hợp như thế luôn luôn mang lại kết quả tốt đẹp. Một khái niệm thiện. Chẳng hạn, câu tục ngữ “Đầu tròn gót vuông”. Theo quan niệm trong Đông y, cơ thể con người ta nửa phần trên, tận cùng là “đầu” mang tính Âm (đầu tròn). Phần dưới tận cùng bằng đôi chân (gót vuông), mang tính Dương. Khi một người bị bệnh, thày thuốc sờ đầu sờ chân, thấy đầu mát (Âm), chân ấm (Dương) là thuận Âm Dương, không có gì phải lo lắng. Nếu ngược lại là không ổn. Các thày thuốc cũng khuyên nên luôn luôn giữ cho cái đầu mát và đôi chân ấm thì sẽ được khỏe mạnh.

Nếu vuông đứng một mình chỉ là vuông và tròn đi một mình chỉ là tròn. Nhưng khi “vuông tròn” gắn kết chặc chẽ với nhau sẽ tạo nên khái niệm trời đất, Âm Dương hài hòa, mang tính “Thiện”, hảo hợp và trường cửu. Tuy nhiên, để hiểu được biểu tượng “vuông – tròn”, cần phải có cái nhãn quan tổng hợp của triết lý Đông phương, nhờ đó chúng ta mới phần nào thấu cảm được cái “khái niệm vuông tròn” trong ngôn ngữ và văn hóa Việt.

Nhìn chung, nhà thờ ĐaMinh – Ba chuông với hình đồ hình chữ Quốc – hình vuông làm nền như khung hình Đàn Tế Nam Giao: tượng trưng cho Đất; khung mái bên trên hình tròn tượng trưng cho Trời. Các góc mái nhà thờ cong vút được trang trí rồng bay tượng trưng con đường giải thoát – hướng thượng.

* Gian cung thánh:

Gian cung thánh nhà thờ Ba Chuông được thiết kế hình tròn theo hướng mở, tạo không gian rộng thoáng về bo^'n hu+o+'ng, đúng với tinh thần “cánh cửa rộng mở canh tân”, bàn thánh là tâm điểm qui tụ mọi thành phần dân Chúa cùng hiệp dâng lễ tế trong Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô. [5]Tất cả nhằm diễn tả ý nghĩa Giáo hội muốn mở rộng vòng tay mời đón mọi người. Không có sự cách biệt giữa bàn thờ, cung thánh với không gian nhà thờ, giữa chủ tế và cộng đoàn, thể hiện sự gần gũi, tinh thần hiệp thông và chia sẻ bàn tiệc của Thiên Chúa mời gọi và thiết đãi trong tình  thân ái.

* Bàn thờ:

Bàn thờ được làm bằng một loại gỗ quý, trên mặt đá cẩm thạch. Chất liệu gỗ, đá là những vật liệu mang tính truyền thống trong kiến trúc xây dựng của người Việt Nam.   Khác với các bàn thờ phu+o+ng Tây (hình chữ nhật), bàn thờ ở đây hình tròn trên chân đế hình vuông đặt giữa lòng cung thánh tròn trên nền vuông với các vòng tròn tam cấp. Tuy hình dáng giữa hai cấu trúc bàn thờ Tây và Ta có khác nhau, nhưng không có sự khác nhau về ý nghĩa, thậm chí bàn thờ ta (hình tròn) còn thể hiện ý nghĩa rõ nét hơn.

Bàn thờ trong nhà thờ Công giáo tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Kitô, bàn thờ hình tròn theo văn hoá Á Đông – hình tròn tượng trưng cho Trời, chân đế hình vuông tượng trưng cho đất. Do đó, trong Đức Kitô, Trời – Đất được nối kết chặt chẽ với nhau “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” là như thế trong văn hoá Á - Đông.

* Nhà tạm:

Nhà Tạm là nơi rất thiêng liêng trong tâm thức mọi người tín hữu Công giáo và cũng là nơi mang đậm nét tôn giáo nhất. Để thể hiện tinh thần hội nhập văn hoá trong đạo Công giáo, nhiều nhà thờ đã làm Nhà Tạm theo mô hình của một ngôi đình làng thu nhỏ – biểu tượng văn hoá của quê hương Việt Nam. Ở đây còn hơn thế nữa, tuy không theo mô hình này nhưng Nhà Tạm của nhà thờ Ba Chuông lại là nơi hội tụ của nhiều đặc nét văn hoá bản địa.

Nhà Tạm hình vuông được bao quanh bởi một mặt kiếng hình tròn. Hai cánh cửa Nhà Tạm trạm nổi hai con rồng chầu Thánh giá. Xung quanh Nhà Tạm là hình bát quái nhưng được cách tân chỉ còn tứ quái (Càn – Trời (được tựng trương bằng ba vạch ngang liên mạch là quẻ thuần dương; một trong các nghĩa của quẻ Càn là Nguyên: năng lực sáng tạo nguyên thủy[6]) / Khôn – Đất (được tượng trưng bằng ba vạch rời là quẻ thuần âm, đối lập với quẻ Càn là quẻ thuần dương)/ Ly – Lửa (được tượng trưng bằng ba vạch bao gồm hai vạch ngang liên tục và vạch giữa ngắt quãng) / Khảm – Nước (được tựng trưng bằng ba vạch, trong đó vạch giữa liền mạch). Trời – Đất – Nước - Lửa là những nhân tố quan trọng trong triết lý phương Đông về thiên nhiên - vạn vật trong vũ trụ và sự vận hành của chúng (trong triết lý phương Bắc bát quái là tám quẻ, mỗi quẻ tương ứng với một hiện tượng thiên nhiên [7]).

Như vậy, những họa tiết đó nhằm diễn tả ý nghĩa: Đức Kitô vừa là chủ tể của vũ trụ thiên hình vạn trạng, vừa là chủ tể của mọi nền văn hoá.

* Phù điêu

Được trưng bài ở tiền sảnh ngôi nhà thờ, các bức phù điêu cho thấy đậm nét sự liên kết giữa tinh thần Kitô giáo và truyền thống văn hóa dân tộc.

Bên trái là phù điêu Đức Mẹ Mân Côi có khoảng không gian nền với hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết, nguồn nước tượng trưng cho lòng Mẹ bao la là những biểu tượng mang tâm thức Việt.

Bên phải là bức phù điêu Thánh Giuse và Chúa Giêsu trong bối cảnh nền là không gian thuần Việt: ngọn núi, ngôi nhà, bàn mộc biểu lộ tinh thần vững trãi của người cha lao động, sự công chính và sự cương trực được thể hiện qua hình ảnh khóm tre (trúc), một biểu tượng tinh thần Á Đông.[8]

* Hội họa

Ba bức tranh gốm Việt Nam được sắp đặt bên trong nội thất nhà thờ có thể nói rất hoành tráng về các gam màu và họa tiết được thêu dệt làm nên một bức tranh lộng lẫy, xứng đáng để tô vẽ và phát họa cách xúc tích nhưng đầy đủ tiến trình Ơn cứu độ của Thiên Chúa xuyên suốt từ Cựu ước đến Tân ước. Đặc biệt, bên cạnh đó là sự hình thành và phát triển của hạt giống Tin Mừng cứu độ trên quê hương Việt Nam từ buổi đầu cho đến nay. Các bức tranh gốm cho chúng ta thấy một sự đan quyện cách hài hòa các giá trị nội dung căn bản của đạo với những giá trị văn hóa dân tộc ẩn chứa trong các họa tiết tiêu biểu: áo dài khăn đống, áo tứ thân, cái nón lá, bụi chuối, căn nhà Việt và cả con người Việt nữa. Một phong cách, khung cảnh và sắc màu làng quê rất Việt.

* Từ Đường Phục Sinh

Là một nhà nguyện nhỏ nằm ở tầng hầm của Nhà thờ, là nơi lưu giữ hài cốt tín hữu đã qua đời và cũng là nơi dâng lễ, cử hành các nghi thức an táng đưa tiển người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nơi thể hiện tín điều “các thánh cùng thông công” – nơi nối kết những người quá cố và những người đang sống.

 Từ đường Phục Sinh không những vừa mang ý nghĩa tôn giáo: nơi cầu nguyện cho các linh hồn của những người qua đời, vừa thể hiện hiếu nghĩa” cao đẹp trong truyền thống của dân tộc ta: cây có cuội, nước có nguồn, con người có tổ có tông,có ông bà cha mẹ..Thảo hiếu với ông bà cha mẹ khi còn sống cũng như lùc qua đời là một trong những nền tảng căn bản của người Việt Nam nói chung, của người Kitô hữu Công giáo nói riêng, vì đó là một đòi hỏi trong thập giới của Thiên Chúa (thứ bốn thảo kính cha mẹ).

NHẬN ĐỊNH

Công trình kiến trúc nhà thờ Đaminh – Ba chuông, có thể nói là một tác phẩm – nghệ thuật thánh độc đáo thể hiện sự tiếp biến cách hài hòa và tinh tế giữa văn hóa Công giáo và văn hoá dân tộc: tôn giáo trong văn hoá – văn hoá trong tôn giáo.

Kiến trúc, bài trí của ngôi nhà thờ làm cho ta cảm thấy gần gũi với đời sống văn hoá của người Việt nhưng lại chuyển tải những nội dung giáo lý, những chân lý đức tin Kitô giáo và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc: có thể nói đây là một đóng góp nhất định trong tiến trình Tin Mừng hoá giữa lòng dân tộc.

Các nhân tố văn hoá Việt đã được áp dụng và đã phát huy được tính hiệu quả của nó qua những thể hiện trong kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ trong nhà thờ Công giáo, nhưng vẫn giữ được sự độc đáo của chúng bởi sự hài hoà và hợp lý trong thiết kế, bài trí và xây dựng.

 Công trình còn cho thấy sự phối hợp hài hoà giữa nhà thờ và khu vực xung quanh, không tạo nên một sự quá khác biệt, quá vượt trội, hay một khoảng cách phân biệt với môi trường xung quanh. Đó cũng là yếu tố  của hội nhập văn hoá. Tuy nhiên, phải nói rằng diện tích mặt bằng tổng thể chưa đủ rộng lớn (3.360m2) để có thể phát huy hết thế mạnh tiềm năng vốn có, đó cũng là hạn chế khách quan mà mỗi người khi đến với nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông đều lấy làm tiếc nuối và tỏ ra cảm thông chia sẻ.

Do nằm ở vị trí cửa ngõ vào trung tâm thành phố, các cử hành lễ nghi và các hoạt động, sinh hoạt tôn giáo - văn hoá mang tầm cỡ của một trung tâm tôn giáo - văn hoá đã, đang và sẽ được hình thành và tổ chức (những chương trình tiêu biểu kể từ khi hoàn thành Nhà thờ: Siêu Sao Giêsu, Triển lãm tranh Tôn giáo và Nhân Văn, Những giai điệu Vĩnh Hằng, v.v…) phần nào để lại những dấu ấn nhất định trong lòng người tín hữu, cũng như những người quan tâm và yêu thích nghệ thuật, nghệ thuật thánh.

Có thể nói, hội nhập văn hoá đã là vấn đề không còn mới mẽ gì trong thời đại hôm nay. Nhưng làm sao để hiểu và “hội nhập” đúng lại là một vấn đề đáng để chúng ta suy nghĩ. Hoà nhập chứ không phải là hoà tan, hỗn tạp. Các nhân tố văn hoá cần được chắt lọc, lựa chọn sao cho cái hay, cái đẹp được tôn lên trong ý nghĩa tự thân và trong môi trường hội nhập.

Nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông là công trình kiến trúc mới đã đáp ứng được những yêu cầu và những thách đố của sự hội nhập. Đó là một công trình kiến trúc Công giáo đã đón nhận và đưa những tinh tế, tinh hoa văn hoá dân tộc vào trong văn hoá tôn giáo, góp phần tôn lên vẻ đẹp tôn giáo của mình. Kiến trúc nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông đã khẳng định được sức sống mới hài hoà và cân đối giữa tôn giáo và văn hoá dân tộc. Đây là sự thành công nhất định trong công cuộc Phúc Âm hoá giữa lòng dân tộc với nền văn hoá bản địa. Bên cạnh đó, cũng phải nói rằng, Công giáo đã góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn – bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể truyền thống của dân tộc chúng ta.

Nơi ngôi nhà thờ theo lối kiến trúc rất Việt Nam này, những người đến tham dự Thánh lễ và tham gia các sinh hoạt tôn giáo, văn hoá. . . đều cảm nhận được nét thân thương, gần gũi của cội nguồn văn hóa dân tộc hòa quyện vào một đức tin mang tâm thức Việt. Điều đó cho thấy rằng Tin Mừng đã hội nhập vào dòng chảy của nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc qua các công trình kiến trúc nhà thờ, đem lại sự hiểu biết và cảm nhận những nét đẹp tôn giáo và nét đẹp văn hoá dân tộc đang đan quyện trong kiến trúc và những trang trí của nhà thờ ĐaMinh – Ba Chuông.


Lm Jos Đỗ Trung Thành OP


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Những bản tin khác:



Gửi tin
Lên đầu trang
Tin Mới Nhận 
Chùm Ảnh Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 02)
Chùm Ảnh Dã Ngoại Hè (Phần 01)
Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 02)
Lời Chúa Chúa Nhật thứ 23 Thường Niên
Tường Thuật Chuyến Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 01)
Thông Báo Sinh Hoạt Chúa Nhật Tuần 1 Tháng 9
Taizé tháng 08.2010 SỐNG GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG
THÔNG BÁO CẦU NGUYỆN TAIZE THÁNG 08.2010
Taizé kỷ niệm 70 năm thành lập và 5 năm Thầy Roger qua đời
Lời Chúa Chúa Nhật 21 Thường Niên

Diễn Đàn Sinh Viên ĐaMinh
Vườn ước nguyện
Giáo Xứ ĐaMinh
Mục Vụ Sinh Viên
Giáo Xứ Đaminh 190 Lê Văn Sỹ F.10 Q. Phú Nhuận TP.HCM
---»«---
Trang Thông tin & Giải trí Sinh Viên Đa Minh.
Xây dựng và Phát triển bởi Nguyễn Tiến Tài
Website Hoạt Động Tốt Nhất Trên FireFox Độ Phân Giải 1024 x 800
Mọi Thông Tin, Bài Viết Đóng Góp Xin Gửi Về Email: banthongtin@sinhviendaminh.net
Lên đầu trang