Mục Vụ Sinh Viên | Sinh Viên Nhịp Bước Đa Minh | Tin tức | Văn Hóa Và Hội Nhập | Kho tàng Quí Giá - Tình yêu đôi lứa Việt Nam


Tin tức » Văn Hóa Và Hội Nhập 06-09-10 12:36
 
Kho tàng Quí Giá - Tình yêu đôi lứa Việt Nam
(Sinh Viên Đa Minh | 146 Lượt Xem)

Xem hình
(SVĐM) Khi nói đến kho tàng thi ca Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến một thể loại mà không một quốc gia nào trên thế giới có thể sánh bằng, đó là: Tục Ngữ - Ca Dao. Nó là một nét độc đáo riêng của dân tộc, có giá trị hết sức quan trọng và vô cùng phong phú cả về nội dung lẫn hình thức.



Tình Yêu Đôi Lứa Trong Ca Dao Tục Ngữ

Tục ngữ – ca dao là những kinh nghiệm đời thường được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản nhất, nhưng nội dung lại súc tích và được chuyển tải bằng lối nói có vần điệu rất hợp với âm sắc của người Việt Nam. Ca dao - tục ngữ còn biểu thị sự hiểu biết và khả năng nhận thức của người Việt Nam xưa về thế giới, về con người và xã hội.

Tục ngữ – ca dao chất chứa trong đó những kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức về mọi lãnh vực trong đời sống của con người: từ kinh nghiệm tổ chức xã hội về đất nước, con người và lịch sử đến ao động sản xuất, chăn nuôi, về thiên nhiên và thời tiết…[1]. Có thể nói, ca dao - tục ngữ là một nền minh triết sâu xa mà chỉ Việt Nam mới có được loại hình nghệ thuật ấy . Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa độc đáo riêng, thì ca dao - tục ngữ Việt Nam lại là một trong những nét độc đáo để mỗi người dân chúng ta có quyền hãnh diện và trân trọng gìn giữ trước trào lưu Toàn Cầu Hoá đang diễn ra trên thế giới.

1. Thế nào là tục ngữ và ca dao Việt Nam

Con người và đất nước Việt Nam đã trải qua bề dày lịch sử để tìm cho mình một nét sống riêng. Trong khi đó nhìn lại lịch sử đất nước thân yêu của chúng ta, thì đã có hơn một ngàn năm đô hộ bởi những nền văn hóa lớn, với tham vọng của những nhà đô hộ, họ muốn đồng hóa nền văn hóa của họ trên văn hóa và tư tưởng con người Việt Nam.

Đang khi chịu sự đô hộ ấy, nền tư tưởng Việt Nam cũng gặp phải những làn gió bên ngoài thổi vào. và ít nhiều cũng ảnh hưởng tít nhiều trong đời sống con người Việt Nam; những tư tưởng này đôi khi cũng tạo thành những thể chế, những khuôn mẫu  theo năm tháng , cách vô tình áp đặt và ngăn chặn trên lối sống riêng của con người Việt Nam chúng ta.

Chính vì thế, chúng ta rất khó nhận ra đâu là nét chính và đâu là nét ngoại lai hoặc đã bị đồng hóa cách này hay cách khác. Thế nhưng cha ông chúng ta, những người luôn có ý thức cao độ về dân tộc tính đã tìm được cho mình một lối sống riêng để gìn giữ và lưu truyền dưới nhiều hình thức và phổ biến nhất trong kho tàng thi ca bình dân là tục ngữ và ca dao.

Trong những câu nói ngắn gọn của tục ngữ, vần điệu của ca dao, chúng ta thấy được rằng: đằng sau những lời lẽ đơn sơ mộc mạc của những người bình dân ấy lại chứa đựng cả một hệ tư tưởng rất kín đáo, ý nhị và thâm sâu nhất mà chúng ta tạm gọi như là “triết lý sống” của dân tộc Việt Nam.

1.1. Tục ngữ là gì ?

Có rất nhiều những định nghĩa về tục ngữ, nhưng các định nghĩa đó cũng chỉ nói lên được một khía cạnh nào đó của tục ngữ. Chẳng hạn, từ điển của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cho rằng: "Tục ngữ là những câu ngắn gọn, có vần điệu lưu truyền trong dân gian, đúc kết tri thức, kinh nghiệm thực tiễn của con người về tự nhiên, xã hội, cuộc sống và đạo lý ở đời"[2]. Còn đối với ông Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam Sử Yếu cho rằng: "Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì"[3].

Như vậy, có thể thấy rằng, một câu tục ngữ phải "diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi còn là một sự phê phán”[4]. Cho nên, tục ngữ phải là một câu mang đầy đủ những tính chất  đời sống của dân tộc, mỗi câu diễn tả được một khía cạnh khác nhau như: văn hóa, kinh tế, chính trị, đạo đức chung của xã hội…

Ở đây có điều đáng chú ý, đa số các câu tục ngữ do nhân dân sáng tác chứ không thuộc về một số ít những nhà tư tưởng của dân tộc. Mỗi người dân có thể đều là những nhà tư tưởng uyên thâm. Những con người đơn sơ chất phát của nền nông nghiệp trồng lúa nước, với nếp sống định canh định cư của một dân tộc có ngành kinh tế chủ lực là Nông nghiệp, đưa đến việc ra đời của những cộng đồng làng xã khép kín trong lũy tre làng và lãnh địa riêng "đất có thổ công, sông có hà bá" cùng với lối sống nghiêm ngặt của "phép vua thua lệ làng". Y niệm về khoảng cách hầu như không có nên mới có cái gọi là "bán anh em xa mua láng giềng gần" rất  thiết thân  và rất tình nghĩa.

Từ những kinh nghiệm trong cuộc sống và trong việc làm nông, người  xưa đã đúc kết thành những kiến thức hiểu biết về quy luật của tự nhiên. Và, để dễ nhớ, dễ hiểu, họ đặt ra những câu nghe xuôi tai, hoặc vần vè để con cháu dễ hiểu, dễ học và dễ thuộc, và xem đó như  kim chỉ nam trong của cuộc sống, chẳng hạn, những quy luật của tự như: "Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa" hay “chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”…

Qua lao động sản suất họ rút ra được những câu tục ngữ về cày cấy: "Thứ nhất cày nỏ, thứ nhì bỏ phân" hay "Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa". Về trồng trọt: "Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen" hay "mít chặt cành, chanh chặt rễ". Về chăn nuôi: "Thưa ao tốt cá" hay "Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt"…

Trong quan hệ xã hội giữa người với người, chúng ta thấy xuất hiện những câu tục ngữ rút ra từ những sinh hoạt hằng ngày như: "Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ" hay “lá lành đùm lá rách” hoặc “anh em như thể tay chân” và nhiều lãnh vực khác nhau.

Như thế, tục ngữ là những câu thông tục, thường thiên về diễn ý, được kết tinh và đúc kết từ những kinh nghiệm lâu đời của  người xưa dựa trên những chuyển hóa trật tự của tự nhiên để nhận xét và đánh giá trong từng vấn đề của con người và vũ trụ.

1.2. Ca dao là gì ?

Nói về ca dao, thật khó phân biệt đâu là mực thước, hoặc, ca dao được sáng tác theo thể lệ hay luật mẹo nào của thi ca, …thật khó mà xác định được. Cho nên, người ta khó có thể đưa ra một định nghĩa nào cho thỏa đáng về tất cả các yêu cầu của ca dao. Nếu có đi nữa, thì cũng chỉ nhằm hiểu được phần nào về ca dao Việt Nam.

Với quan điểm của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: "Ca dao là thể thơ dân gian, được lưu truyền dưới dạng câu hát, có ý nghĩa sâu sắc và là thể loại lục bát, có dạng ca dao"[5]. Còn đối với ông Vũ Ngọc Phan: "Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao[6]. Qua hai định nghĩa trên, chúng ta thấy, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa thơ và ca dao. Ngoài ra, cũng như tục ngữ, ca dao là những bài văn vần do cá nhân và tập thể  người dân sáng tác, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Và, vì là thể văn truyền miệng nên chúng rất khó có thể biết được đâu là câu ca dao nguyên thể, vì khi một câu ca dao được sáng tác ra, lúc đầu chưa chắc đã hoàn chỉnh và ngay sau đó, hoặc qua thời gian đã được nhiều người thêm bớt, sửa chữa cho phù hợp với âm sắc hoặc từ ngữ cho phù hợp với địa phương tính, cứ thế cho đến khi câu ca dao hoàn chỉnh về cả lời lẫn ý.

Ví như bài ca dao con cò[7]:

* Cái cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao…

           và

* Cái cò mà đi ăn đêm

Đỗ phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi rước lấy tôi vào…

Muốn hiểu phong tục tập quán văn hóa Việt Nam, chỉ cần tìm hiểu trong kho tàng tục ngữ và ca dao, đặc biệt là ca dao, chúng ta có thể nắm bắt phần nào, bởi, nơi đó thể hiện rất nhiều khía cạnh như: chính trị, kinh tế, quan hệ tình yêu, gia đình, dân tộc và xã hội… Nơi  đó có thể tìm thấy tình cảm thắm thiết, sâu rộng của người dân lao động.

Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian, về hình thức, nó là thơ có nhịp điệu, tiết tấu. Tục ngữ là những câu nói thiên về lí trí, đúc kết kinh nghiệm cuộc sống, con người, tự nhiên và xã hội[8]

Trong phạm vi bài này, chúng ta cùng khai triển và tìm hiểu về một chủ đề gằn gũi và gắn bó thường trực với đời sống con người, đó là Tình yêu đôi lứa được thể hiện như thế nào trong ca dao - tục ngữ Việt Nam.

2. Tình yêu lứa đôi.

Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõ nhất trong Ca dao - Tục Ngữ,  vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thủa của kiếp người. Trong ca dao tục ngữ  Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như đòn nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những dòng sông.

Chẳng hạn, lời tỏ tình hết sức  ý nhị qua bài ca dao “TÁT NƯỚC ĐẦU ĐÌNH”.

“Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin

Hay là em để làm tin trong nhà?

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Áo anh sứt chỉ đã lâu

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Khâu rồi anh sẽ trả công

Đến lúc có chồng anh lại giúp cho

Giúp cho đôi chiếu em nằm

Đôi chăn em đắp đôi trằm em đeo

Giúp em quan tám tiền treo

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”

Người ta thường nói “yêu thì nhiều sáng kiến”, và cũng thế qua bài ca dao trên, cả là một sáng kiến mới trong tình yêu, rất mãnh liệt, và hết sức ý nhị tha thiết, mang đầy vẻ chân thật, mộc mạc và sâu xa, tưởng chừng như vô tình nhưng đầy hữu ý, hé mở dần dần rất uyển chuyển để rồi đi đến một đoạn kết có hậu.

Hay,

“Cô kia cắt cỏ bên sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.

Hay lời mời của cô gái:     

           “Ước gì sông rộng một gang

             Bắc cầu giải yếm để chàng sang chơi”.

Hai câu ca dao này cho được nét độc đáo của lời “tán” rất hay của chàng trai. Rất là “vô lý” ! làm sao người ta có thể bước đi trên cành hồng hay bắc cầu bằng giải yếm để đến với nhau, nhưng, trong tình yêu, giải yếm hay cành hồng vẫn được coi là biểu tượng của tình yêu, khi đó những hình ảnh ấy được mượn để diễn tả về tình yêu, thì chúng lại trở nên thật hữu lý. Ta sẽ thấy trong ca dao, có rất nhiều những cái nghịch lý như thế, và người ta mặc nhiên chấp nhận cái phi lý đó, thậm chí chính cái vô lý ấy nhiều khi lại là “nét duyên” về thi ca trong kho tàng văn học Việt Nam.

Trong ca dao Việt Nam, dường như, cái áo luôn là kỷ vật hết sức quen thuộc trong tình yêu như ta thường nghe:

“Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay…”.

                     Hay:        “Anh về để áo lại đây

                                     Phòng khi em đắp gió tây lạnh lùng”.

                     Hoặc:      “Áo xông hương của chàng vắt mắc

                                     Đêm em nằm em đắp lấy hơi”.

 Cái áo đã trở thành một tình cảm quen thuộc, một tín hiệu giao duyên trong ca dao trữ tình. Ở đây, cái áo cũng giúp chàng trai nói lên được “lời muốn nói” của ngôn ngữ tình yêu.

Như vậy, bằng những rung cảm riêng của người bình dân Việt Nam, họ đã xây dựng một bài ca dao rất hay, hay không chỉ riêng về cú pháp ở từng ý, từng từ mà còn biết dùng những hình ảnh thật bình thường trong sinh hoạt hằng ngày, để nói lên cái thâm sâu và riêng tư nhất mà nghe qua ai cũng có thể đoán điều muốn nói. Những điều phi lý nhất trong đời thường lại được ca dao tục ngữ làm thành những điều hết sức có lý, và đây cũng là nét đẹp, nét đáng yêu và đặc sắc nhất mà chỉ có thi ca bình dân Việt Nam mới có được.

Theo lối suy tư của Tây phương, những câu nói  ấy rất phi lý và hầu như không thể chấp nhận, vậy mà đối với mọi người bình dân Việt Nam, chúng ta không thấy họ thắc mắc hay đặt vấn đề mà họ lại vô tư chấp nhận như là một lẽ đương nhiên. Đó là một trong những nét độc đáo riêng mà chúng ta chỉ tìm thấy nơi triết tính Việt. Chính nơi những tư tưởng xem như vô lý ấy lại làm thành những điều hợp lý nhất; những gì tưởng chừng như không thể, lại được người bình dân làm thành những điều có thể.

Vì vây, nó được coi là điểm son của Việt Nam chúng ta. Chính vì thế mà tiến sĩ Vũ Ngọc Phan cũng đã nói: Tục ngữ - ca dao Việt Nam là những viên ngọc quý. Nó quý ở chỗ trong quá trình phát triển văn học Việt Nam từ xưa đến nay, luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội và xây dựng đất nước[9].

Như vậy, tại sao chúng ta là những người mang trong mình dòng máu Việt, chúng ta lại không  quan ttâm, không học hỏi và bảo vệ ,gìn giữ gia sản tinh thần thiêng liêng cao quý ấy của dân tộc mình để xây dựng đời sống xã hội đang ngày một xuống dốc và băng hoại  đang diễn ra như hôm nay ?  ./.


[1] Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn Hóa- Thông Tin, 1999, tr. 5.

[2]  Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Đại từ điển tiếng việt, văn hóa thông tin, 1999, tr. 1747.

[3] Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Hà Nội, 1951, tr. 15.

[4] Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Văn Học, 2000, tr. 31.

[5]  Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Đại từ điển tiếng việt, văn hóa thông tin, 1999, tr. 219.

[6] Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Văn Học, 2000, tr. 36.

[7] Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật, Kho tàng ca dao người việt tập 4, Hà Nội, 1995, tr. 2451.

 

[8] Tục ngữ ca dao Việt Nam, Op. Cit. tr. 7.

 

[9] Vũ Ngọc Phan, Op. Cit. tr. 755.

 





 

Lm. Đỗ Trung Thành O.P


Bản để inIn bản tin  Lưu dạng fileLưu bản tin  Gửi tin qua emailGửi cho bạn


Những bản tin khác:



Gửi tin
Lên đầu trang
Tin Mới Nhận 
Chùm Ảnh Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 02)
Chùm Ảnh Dã Ngoại Hè (Phần 01)
Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 02)
Lời Chúa Chúa Nhật thứ 23 Thường Niên
Tường Thuật Chuyến Dã Ngoại Hè 2010 (Phần 01)
Thông Báo Sinh Hoạt Chúa Nhật Tuần 1 Tháng 9
Taizé tháng 08.2010 SỐNG GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG
THÔNG BÁO CẦU NGUYỆN TAIZE THÁNG 08.2010
Taizé kỷ niệm 70 năm thành lập và 5 năm Thầy Roger qua đời
Lời Chúa Chúa Nhật 21 Thường Niên

Diễn Đàn Sinh Viên ĐaMinh
Vườn ước nguyện
Giáo Xứ ĐaMinh
Mục Vụ Sinh Viên
Giáo Xứ Đaminh 190 Lê Văn Sỹ F.10 Q. Phú Nhuận TP.HCM
---»«---
Trang Thông tin & Giải trí Sinh Viên Đa Minh.
Xây dựng và Phát triển bởi Nguyễn Tiến Tài
Website Hoạt Động Tốt Nhất Trên FireFox Độ Phân Giải 1024 x 800
Mọi Thông Tin, Bài Viết Đóng Góp Xin Gửi Về Email: banthongtin@sinhviendaminh.net
Lên đầu trang