Lời tác giả
Từ khi hạt giống Tin Mừng được gieo trồng và trổ sinh trên quê hương Việt Nam, những ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng theo phong cách Tây phương (tiêu biểu là Rôman và Gôthique) lần lượt xuất hiện ở khắp nơi trong đất nước, đã gắn bó và trở nên rất thân thuộc với người Công giáo Việt. Vì thế, mô hình kiến trúc nhà thờ phương Tây đã in sâu vào truyền thống cố hữu trong tâm thức người Công giáo Việt Nam vốn lại luôn cưu mang trong mình những tố chất văn hoá Á Đông.
Theo tiến trình Hội nhập văn hóa , đáp lại lời mời gọi của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về việc đối thoại với nền văn hoá bản địa đa sắc màu, nhiều ngôi nhà thờ mới đã được xây dựng theo phong cách Á Đông, mang dấu ấn của văn hoá dân tộc. Một số giáo phận phía Bắc bộ và Trung bộ Việt Nam đã xây
dựng nhà thờ truyền thống Á – Đông từ hơn một thế kỷ nay: nhà thờ giáo xứ Hảo Nho (Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình), nhà thờ xứ Bình Sa (Kim Sơn, Ninh Bình), nhà thờ xứ Đốc Sơ, An Truyền, An Vân (địa phận Huế), tiêu biểu và nổi bậc nhất là Quần thể Nhà thờ lớn Phát Diệm – Ninh Bình . Còn tại tổng giáo phận Sài Gòn (TP. HCM), chỉ trong một khoảng không gian nhỏ của hạt Phú Nhuận, chúng ta đã thấy có đến ba ngôi nhà thờ truyền thống Á Đông: Vườn Xoài, Tân Hoà, Đa Minh – Ba Chuông. Tuy nhiên, thật ngạc nhiên khi thấy một số anh chị em tín hữu Công giáo Việt Nam vẫn còn có cảm giác xa lạ và ngỡ ngàng khi đứng trước những ngôi nhà thờ mang đậm bản sắc văn hoá Á Đông này.
Trên thực tế, có lẽ nhà thờ mới của giáo xứ Đa Minh (Ba Chuông) sừng sững hiện lên giữa giáo phận Sài Gòn đã là một sự bất ngờ lớn đối với nhiều người. Vì vậy, theo đường hướng mục vụ của Giáo Hội hôm nay, chúng tôi mong ước giới thiệu và diễn giải với quí bạn đọc một cách khái quát về những nhân tố văn hóa Á Đông trong truyền thống dân tộc Việt, dung hợp với tinh thần phụng vụ Kitô giáo, thể hiện trong kiến trúc nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông này. Qua đó, chúng tôi muốn chia sẻ với quí vị những cảm thức thiêng liêng về nội dung và ý nghĩa những họa tiết được thiết kế trong tổng thể ngôi nhà thờ, để cùng cổ võ đời sống đức tin và tinh thần phụng tự Kitô giáo bằng những sắc thái tinh tế và trầm lắng của văn hoá truyền thống Á Đông. Hy vọng rằng bất cứ ai đến thánh đường giáo xứ Đa Minh này cũng cảm thấy ấm áp thêm hồn thiêng dân tộc và nồng nàn thêm sức sống của niềm tin Kitô giáo. Đó chính là mục đích của Linh Mục chánh xứ Giuse Phạm Hưng Thịnh, O.P., khi chọn tiêu chí phong cách Á – Đông để xây dựng ngôi nhà thờ mới như chúng ta đang có hôm nay.
PHẦN I. NHỮNG YẾU TỐ NỀN TẢNG
1. Nhìn chung về Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam
Đức tin Công giáo được gieo trồng ở Việt Nam qua hành trình truyền giáo của các vị thừa sai Tây phương từ thế kỷ XVI (1553). Từ đó, “các ngôi nhà thờ” được hình thành nên như một mái nhà chung, qui tụ các tín hữu trong cùng đại hạt, để cộng đoàn dân Chúa cùng nhau cử hành các nghi thức phụng vụ, Thánh Lễ, học hỏi giáo lý, hội họp, hun đúc và nuôi dưỡng đời sống đức tin.
Ở giai đoạn hình thành, do điều kiện kinh tế và xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về nhiều mặt, nhà thờ chỉ là một căn nhà lá đơn sơ do các tín hữu dựng nên. Dần dần qua thời gian, khi hoàn cảnh thuận lợi hơn, đạo Công giáo có điều kiện ổn định và phát triển, cùng với những hy sinh đóng góp của các tín hữu về công sức, tiền của, nhiều nhà thờ đã được xây dựng lớn hơn, khang trang và đẹp hơn.
Mặt khác, chính các vị thừa sai Tây phương khi thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu Việt Nam tiên khởi, đã khởi công xây dựng nhà thờ để dễ dàng chăm sóc đời sống đức tin của cộng đoàn Kitô hữu ở đây, nên hầu hết các ngôi nhà thờ Việt Nam đầu tiên đều mang dáng dấp kiến trúc nhà thờ phương Tây, để phân biệt với các công trình kiến trúc tôn giáo của Việt Nam như đình, chùa, đền, miếu, v.v.. Đó là điều khó tránh khỏi và cũng dễ hiểu.
Theo thời gian, Giáo hội Công giáo Việt Nam đáp lại lời mời gọi của Giáo Hội Mẹ về công cuộc hội nhập văn hoá , đã đón nhận, cưu mang và diễn tả sức sống Tin Mừng bằng ngôn ngữ và nhiều sắc thái khác nhau của nền văn hoá bản địa dân tộc Việt. Trong đó, lãnh vực kiến trúc nhà thờ dễ dàng nhận thấy hơn cả, nhiều nhà thờ Việt được xây dựng theo phong cách Á – Đông, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa, thể hiện ý thức dân tộc trong niềm tin Kitô giáo. Điển hình là quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm – một công trình kiến trúc có thể nói là “thuần Việt”, đã tồn tại cách đây trên 100 năm, và hiện nay, đã được công nhận là di sản văn hoá của quốc gia.
2. Đôi nét về lịch sử và tên gọi nhà thờ Đa Minh - Ba Chuông
Ngay tên gọi “nhà thờ Ba Chuông” (giáo xứ Đa Minh) đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về
nguồn gốc, ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân hình thành tên gọi bình dị dễ thương này.
Giáo xứ Đa Minh – Ba Chuông ngày nay toạ lạc tại 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận do các linh mục Dòng Đa Minh sáng lập.
Nhà thờ được xây dựng vào năm 1962, người vẽ kiểu nhà thờ là kiến trúc sư Tần. Nhà thờ cũ xây dựng theo mô hình nhà tiền chế, không theo kiến trúc nhà thờ Tây phương, cũng không theo hình dáng đình chùa Việt Nam. Dáng vóc nhà thờ không cao, không đồ sộ nhưng có những nét độc đáo riêng. Nhà thờ được làm với khung sườn làm bằng sắt, hình Thánh giá, độ cao chỉ có 6m tính từ sàn nhà thờ đến chỗ cao nhất của mái, mái lợp tôn, trần lưới xi – măng, xung quanh nhà thờ là hành lang với hàng cột có mái vòm…
Năm 1967, Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình mới ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ Đa Minh.
Khi nhận được quyết định thành lập giáo xứ, các linh mục Dòng Đa Minh đã lấy chính thánh hiệu “Đa Minh” làm tên gọi của giáo xứ. Thật vậy, tên gọi “nhà thờ Ðaminh” hay “giáo xứ Ðaminh” mới là chính thức. Tuy nhiên, nhiều tín hữu trong giáo xứ và vùng lân cận lại thích dùng tên gọi dân gian “nhà thờ Ba Chuông”. Tại sao lại có tên gọi “nhà thờ Ba Chuông”?
Sở dĩ có tên gọi “thân thương” như thế, là do điểm nổi bật của nhà thờ này chính là “tháp chuông cao vút màu đỏ sậm với ba quả chuông lộ ra ngoài”. Vào thời điểm đó, các tháp chuông của các nhà thờ có thể chỉ có một hoặc hai chuông, riêng tháp chuông nhà thờ Đa Minh có tới ba quả chuông nằm ngay mặt tiền nhà thờ, gần với đường phố và lại để “hở” – người qua lại ai ai cũng nhìn thấy, nên rất dễ gây ấn tượng. Ấn tượng đó đã hình thành nên tên gọi thân mật “nhà thờ Ba Chuông” từ lúc nào không ai biết. Cho đến hôm nay, “nhà thờ Ba Chuông” đã trở thành một tên gọi quen thuộc và phổ biến, gắn liền với nhiều kỷ niệm của những ai đã từng có mối tương quan cách này cách khác với ngôi nhà thờ này – kể cả các bác xe ôm…, dù bây giờ nhà thờ đã đổi khác.
3. Ngôi nhà thờ mới
* Ý tưởng xây dựng
- Xuất phát từ nhu cầu thực tế: kinh tế phát triển nhanh chóng, xã hội ngày càng tiến bộ mạnh mẽ, dân cư không ngừng gia tăng, những luồng di dân ồ ạt kéo về thành phố Hồ Chí Minh rộng lớn này, số giáo dân trong địa bàn giáo xứ ngày một đông thêm, nhà thờ cũ ngày càng trở nên quá tải khi số lượng giáo dân đến tham dự Thánh lễ mỗi ngày một đông. Sức chứa của nhà thờ cũ không còn đáp ứng đủ, nên giáo dân đến tham dự thánh lễ thường phải ngồi ở ngoài nhà thờ (lề đường) vừa gây chia trí, vừa gây cản trở giao thông, nhất là khi vào mùa mưa bão.
- Mặt khác, do xây dựng từ năm 1960 nên nhà thờ đã đến thời kỳ hư hỏng, xuống cấp, cần phải tu sửa lại.
- Do vị trí gần trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, thuận tiện cho những dịp hội họp công chúng, nên trung ương Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam cũng mong muốn có một ngôi nhà thờ mới làm trung tâm mục vụ, nơi tổ chức các nghi lễ chính thức của Dòng.
* Ý tưởng kiến trúc
Nhu cầu về việc xây dựng nhà thờ mới diễn ra trong “bối cảnh rất thuận lợi và đầy cảm hứng” trong tiến trình Hội Nhập Văn Hóa của Giáo hội: Sự cổ vũ của Công Đồng Vatican II, Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về đối thoại với văn hoá bản địa đa sắc tộc, và sự khích lệ của Đức Hồng Y G.B Phạm Minh Mẫn, tổng giám mục giáo phận Sài Gòn. Từ đó, ý tưởng về một ngôi nhà thờ theo phong cách Á - Đông đã được hình thành. Linh mục chánh xứ Giuse Phạm Hưng Thịnh mạnh dạn quyết định khởi xướng chủ đề kiến trúc của ngôi nhà thờ mới là GIAO ƯỚC YÊU THƯƠNG. Theo sự điều động khôn khéo, sáng tạo và năng động của Cha chánh xứ, toàn thể cộng đoàn giáo xứ đã hiệp lòng chung vai góp sức với Cha xứ, nỗ lực hy sinh đem hết khả năng về tâm, tài và lực để hoàn thành công trình xây dựng ngôi nhà thờ mới này.
4. Tổng quan về nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông hiện nay
Có lẽ, dấu ấn đầu tiên với bất kỳ ai khi đến tham quan nhà thờ Ða Minh – Ba Chuông chính là những tầng lớp mái cong với “vô số” những đầu rồng ngưởng cao cổ lên hướng về phía Thánh giá – Trung tâm điểm.
Những hình ảnh lý thú đầu tiên đó vừa gợi lên nét đẹp sống động, vừa gợi lên sự hiếu kỳ trong chúng ta, muốn tìm hiểu ý nghĩa hàm chứa. Vì chưng, theo lối diễn tả của sách Khải Huyền, rồng là một đối tượng “không lành” – tại sao lại được chọn làm con vật tiêu biểu về số lượng, lẫn vị trí trổi vượt trong tổng thể kiến trúc, để thể hiện biểu tượng đặc trưng cho ý nghĩa tinh thần của nhà thờĐa Minh - Ba Chuông?
Để lý giải những ý nghĩa của biểu tượng “rồng” được thiết kế nơi nhà thờ Đaminh – Ba Chuông, chúng tôi trình bày đôi nét về “rồng trong nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây”.
Theo một số nhà nghiên cứu, rồng ra đời ngay từ buổi bình minh của lích sử loài người, là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của con người, nhằm nhật thức và khám phá thế giới. Cả phương Đông và phương Tây đều có biểu tượng rồng, song do đặc điểm của mỗi nên văn hóa mà rồng phương Đông có những nét khác rồng phương Tây về hình tượng lẫn ý nghĩa.
1. Sự nhìn nhận của phương Đông về Rồng
Ðối với người phương Đông, rồng là một biểu tượng văn hóa, ra đời từ sự nỗ lực của con người trong việc tìm hiểu và nhận thức thế giới tự nhiên. Sự nhìn nhận về rồng được quyết định bởi bản chất và đặc thù của nền văn hóa phương Đông.
Theo các nhà khoa học, hình tượng con rồng có nguồn gốc từ vùng Nam – Á (Bách Việt), vì con rồng được trừu tượng hoá từ hai loài bò sát là rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nước Đông Nam Á.
Ở phương Đông, hầu hết môi trường sống của con người có khí hậu nóng, mưa nhiều; nhiều vùng đồng bằng nằm trong các lưu vực các con sông lớn được hình thành. Sông nước là yếu tố quan trọng đối với người phương Đông. Vì vậy rồng với ý nghĩa đầu tiên là biểu tượng cho nước, điều kiện tất yếu để đem lại mùa màng bội thu. Từ đó, rồng được cư dân phương Đông xem như là vị thần nước. Sau này, trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc phương Đông, rồng được gán thêm những ý nghĩa mới, phù hợp với tính chất của thời đại như: nguồn gốc dân tộc, vương quyền, cao sang, may mắn, thịnh vượng,…
Rồng mang đầy đủ hai nét đặc trưng cơ bản của tư duy nông nghiệp là tổng hợp và linh hoạt, do sự kết hợp những đặc điểm của cá sấu (đầu, vẩy, chân) và rắn (thân dài). Theo đó, rồng có mình dài, có vẩy, có chân, biết bay và miệng có thể phun nước hoặc lửa.
Cho nên, nếu phương tây coi rồng là biểu tượng cho sự xấu xa, độc ác, là đối tượng mà con ngườn cần phải chinh phục; thì ngược lại, phương Đông lại xem rồng biểu tượng cho sự tốt đẹp, may mắn và thịnh vượng. Cung vì thế, rồng trong truyền thuyết, huyền thoại phương Đông được mô tả khác với rồng của phương Tây cả về dáng dấp lẫn tính khí.
Nhự vậy, với phương Đông, rồng biểu tượng của bản nguyên tích cực và sáng tạo, là sức mạnh của sự sống. Nguồn gốc sâu xa của biểu tượng này là do điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) qui định.
Ở Trung Hoa xưa, người ta xem rồng là tinh linh núi, là thần linh bảo hộ. Về khả năng của rồng, trong dân gian Trung Hoa có rất nhiều truyền thuyết cho rằng rồng có khả năng hô gió gọi mưa, có thể đội sông lật bể, gọi mây che mặt trời. Đối với người Nhật, con rồng là chủ yếu trong những vật lý tưởng ở Nhật Bản. Đối với người Triều Tiên, rồng là một trong bốn con vật siêu tự nhiên có phép lạ.
Ở Việt Nam, do địa hình có nhiều đồng bằng và hệ thống sông ngòi dày đặc; hơn nữa, Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa phong phú nên rất thích hợp cho việc trồng cây lúa nước. Trong điều kiện môi trường như vậy, những con vật như chim, rắn, cá sấu là rất phổ biến, và gần gũi với con người, đặc biệt, “cá sấu được coi là chúa tể cai quản vùng sông nước” nên chúng là những loài động vật được sùng bái hàng đầu. Và, trong ký ức dân gian, thần mưa và thần nước mang hình hài một con rồng to thường xuyên ra biển Đông hút nước mang vào đất liền tưới tắm cho đất đai. Rồng là nguồn nước tưới cho ruộng đồng tốt tươi và giúp nhà nông hình thành kinh nghiệm dân gian: Rồng đen lấy nước thì nắng / Rồng trắng lấy nước thì mưa…
Do đó, con rồng Việt Nam chính là sản phẩm của trí tưởng tượng của đời sống nông nghiệp lúa nước và có những đặc nét khác với rồng của các nước khác. Được xem là vua của tạo sinh động vật, nên dễ hiểu rồng là biểu tượng của điềm lành, sự may mắn và tốt đẹp đối với phương Đông. Đối với một số quốc gia phương Đông, rồng là biểu tượng cho nguồn gốc dân tộc. Người Việt xưa tự hào mình là “Con Rồng cháu Tiên”.
Người xưa cho rằng, rồng hiện lên là điềm báo đất nước sẽ có vị minh quân hay hiền nhân, hoặc tôn phong những triều đại tốt đẹp. Thế kỷ XI, vua Lý Công Uẩn dời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và đã đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long để thể hiện khát vọng và tư thế vươn lên của một dân tộc.
Cho đến ngày nay, theo thói quen khi nói về các quốc gia phát triển với ý nghĩa khen ngợi, người ta vẫn sử dụng chữ “rồng”; chẳng hạn: Nhật Bản, Singapo, Đài Loan… được gọi là Những con Roàng Chaâu AÙ, hàm ý chỉ về khả năng tiềm ẩn, sự vượt trội… Và, có lẽ ai ai cũng biết, đối với người Việt Nam của chúng ta, Rồng còn được kể là một Linh vật trong “Tứ Linh”: Long, Lân, Quy, Phượng.
2. Sự nhìn nhận của phương Tây về Rồng
Ở phương Tây, người ta không quan tâm lắm tới löôïng nöôùc töï nhieân cung caáp cho vườn tược và đồng cỏ của mình, rồng lại mang ý nghĩa ngược lại, đó là sự phá hủy, độc ác và xấu xa. Trong văn hóa phương Tây, rồng được trình bày như thần linh của độc ác. Văn hóa Kitô giáo xem rồng là thế lực phản nghịch Thiên Chúa.
Các nhà nghiên cứu cho rằng rồng của Hy Lạp là mẫu hình chung cho các câu chuyện về rồng của phương Tây. Thần thoại Hy Lạp mô tả rồng dưới nhiều dạng: rồng bảy đầu, rồng chín đầu chuyên ăn thịt con gái đẹp, roàng trăm đầu mắt trợn trừng…
Nói chung, nét nổi bật của rồng trong thần thoại phương Tây không phải là biểu tượng của điềm lành, chẳng dính dáng gì đến mưa cũng như sự sinh sản của đất đai. Ý nghĩa ẩn đằng sau tích các truyện về rồng của phương Tây là coi rồng như hiện thân của sự xấu xa, độc ác, cần bị trừng phạt… Trong tư duy người phương Tây, rồng mang dáng dấp của sự kinh sợ, dọa nạt con người. Nó có thể phun ra lửa và phá hủy tất cả. Sức mạnh của rồng ở trong miệng và đuôi của nó. Các câu chuyện về rồng bay trên không lúc ban đêm và có khả năng khạc ra lửa rất phổ biến ở Na Uy, Đan Mạch, cũng như vương quốc Anh.
Trong huyền thoại Công giáo, rồng phương Tây trở thành hiện thân của quỷ dữ hoặc là đầy tớ của quỷ dữ. Các đầu rồng bị đập vỡ, các con rắn bị tiêu diệt là hình ảnh vĩnh cửu về cuộc chiến giữa cái thiện với cái ác trong quan niệm phương Tây.
Chẳng hạn, trong chương 12 cuûa sách Khải huyền[1], rồng được mang tên gọi là Mãng Xà, có những tính chất rất hung dữ và ghê rợn “đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện…” (Kh 12,3). Con vật này, được sử dụng như biểu tượng cho sự dữ, xa tan, ma qũy – một thế lực đối nghịch với Thiên Chúa.
Hình tượng rồng phương Tây trong nghệ thuật tạo hình thời Trung cổ được thể hiện có cánh hoặc không có cánh, thân phủ đầy vẩy, trên lưng có gai nhọn, dáng tựa như một con cá sấu. Đến thời kỳ Phục hưng, trong một bức họa của Léonard de Vinci, rồng lại được mô tả như một con thú có thân hình của sói, miệng nhe nanh đe dọa, các lông trên thân khá dài hướng về phía sau.
Đối với họa sĩ phương Tây, rồng được vẽ ra trên tinh thần tạo một hình tượng mang dáng vẻ hung dữ và ác độc, là mối đe dọa đối với con người. Cách tạo hình rồng phương Tây đối lập với hình rồng phương Đông, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự xấu xa, ác độc, một bên là hình ảnh tượng trưng cho sự cao quý tốt đẹp.
Những luận giải trên đây phần nào cho chúng ta thấy điểm khác biệt về lối tiếp cận, về cái nhìn và cách tạo hình rồng giữa phương Đông và phương Tây.
Các dân tộc phương Đông gắn bó với nền văn hóa nông nghiệp, thì thường tạo hình rồng trông hiền hòa, phù hợp với tâm lý ứng xử với tự nhiên là tiếp nhận và mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó. Còn các dân tộc phương Tây gắn bó với nền văn hóa du mục, lại tạo hình rồng hung dữ do tâm lý ứng xử độc tôn trong tiếp nhận và cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó.
Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần được khuất phục.
Có thể nói rằng, với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện khaùt voïng vươn tới cái đẹp chân - thiện - mỹ.
Với những ý nghĩa trên, hình ảnh con rồng trong kiến trúc của nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông vừa thể hiện sự hội nhặp văn hoá, sự hoà nhập của Kitô giáo vào nền văn hoá đậm đà bản sắc và tính nhân văn của dân tộc, làm cho ngôi nhà thờ càng tăng thêm vẻ thanh cao, siêu thoát, vừa mang đầy ý nghĩa tôn giáo: nhắc nhớ cội nguồn, tìm về bản sắc dân tộc và khơi gợi con đường giải thoát vươn cao.
Theo lời giới thiệu của linh mục chánh xứ Giuse Phạm Hưng Thịnh: “Nhà thờ Đa Minh – Ba Chuông hình thức bên ngoài dựa trên nền tảng kiến trúc, mỹ thuật Việt Nam, đập ngay vào mắt là các mái đao đầu rồng vươn lên đến đỉnh Thánh giá cao 40m.
Tuy nhiên, ở bên trong, bố cục bài trí lại mang nét hiện đại, trên diện tích 1200 m2. Lòng nhà thờ mở rộng ra bốn phía, trung tâm là bàn thánh hình tròn, mang tính quy tụ và hiệp thông, với sức chứa là 1500 người (nếu tính luôn ngoài khuôn viên thì có thể lên đến 3000 người). Sở dĩ chúng tôi thiết kế như vậy là vì ước muốn rằng, nơi đây ngoài việc cử hành phụng vụ, còn là chỗ gặp gỡ, đón tiếp mọi người trong các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật đạo đời, cổ vũ những sinh hoạt nhân văn thăng tiến con người.
Ngoài kiến trúc, kết cấu và bố cục, chúng tôi cũng quan tâm nhiều đến việc trang trí bên trong, qua các tác phẩm tranh, tượng, phù điêu gốm sứ và các chất liệu quí làm nên một khung cảnh uy nghi trang trọng – ba bức tranh gốm màu (16m x 20m x 3m) bao bọc ba mặt tầng lửng diễn tả lịch sử ơn cứu độ và hành trình truyền giáo tại Việt Nam là chủ đề chính của nhà thờ.
Bên ngoài có ba quảng trường: Đức Mẹ La Vang, Thánh Martino và các thánh tử đạo Việt Nam. Chúng tôi cố gắng tô điểm cho những quảng trường này thật nhiều cây xanh, non bộ và suối nước để tăng vẻ trầm lắng, thanh tịnh, nhẹ nhàng cho một công trình văn hoá.
Chìm sâu trong lòng đất là Từ đường Phục Sinh, nơi lưu giữ và bảo tồn 1500 hộc hài cốt tín hữu qua đời được thiết kế như một thư viện, các hộp đựng hài cốt mang hình những quyển sách và tầng hầm để xe có sức chứa khoảng 1000 xe gắn máy.
Toàn thể kiến trúc với sắc màu men lam chủ lực trên diện tích 3360m2, cùng với quan điểm trang trí mỹ thuật chọn lọc, đặt nền tảng trên Thánh Kinh và Phụng Vụ, công trình cố gắng thể hiện thông thoáng, cởi mở tinh thần hội nhập văn hoá và Đức tin” .



(Xin quí bạn chờ xem tiếp phần II...)
[1] Cuốn sách cuối cùng của bộ Kinh Thánh Tân Ước
Lm.Giuse Đỗ Trung Thành, O.P
Ths. Văn Hóa Học